Ép bản thân tạo thêm liên kết giữa các ghi chú buộc ta phải nghĩ rộng ra: còn khái niệm nào khác liên quan đến điều mình đang nghĩ? Nó tạo sức ép để cân nhắc kỹ cách các ý tưởng gắn với nhau (xem Muốn hiểu thì phải bỏ công và Ghi chú thường xanh nên hướng khái niệm). Nó cũng giúp ta nội hóa ý tưởng sâu hơn nhờ Mã hóa tinh chế.
Tìm đúng liên kết đòi hỏi đọc lại các ghi chú cũ, nên đây cũng là cơ chế tự nhiên để ôn lại ghi chú theo từng khoảng thời gian (Duy trì ghi chú thường xanh tương tự lặp lại ngắt quãng). Việc này có thể dẫn tới những phát hiện bất ngờ (Ghi chú nên làm bạn ngạc nhiên).
Ghi lại các kết nối cũng là cách lưu lại lối tư duy đã dẫn ta tới kết luận, hữu ích cho chính ta (hoặc đồng nghiệp) về sau. Càng làm được nhiều càng tốt, nên Ưu tiên các liên kết chi tiết. Ngược lại, Thẻ là cấu trúc liên kết kém hiệu quả.
Khi lướt qua ghi chú, các kết nối mở ra nhiều lối đi xuyên qua không gian ý tưởng. Ta hay bị cám dỗ điều hướng theo phân cấp, nhưng liên kết thì cắt ngang lĩnh vực và chủ đề. Ưu tiên bản thể học liên kết hơn phân loại phân cấp
Luhmann thậm chí lập luận rằng…
So với cấu trúc này, cái cung cấp các khả năng kết nối có thể được hiện thực hóa, tầm quan trọng của những gì thực sự được ghi chú là thứ yếu.
(In comparison with this structure, which offers possibilities of connection that can be actualized, the importance of what has actually been noted is secondary.)
Không nhất thiết phải liên kết tới ghi chú đã có sẵn: Liên kết ngược có thể được dùng để định nghĩa ngầm các nút trong hệ thống quản lý tri thức. Phải dừng lại viết một ghi chú mới mỗi lần cần thì cảm giác rất gượng. Liên kết tới một bản nháp thì thoải mái hơn nhiều. (xem thêm Ghi chú thường xanh cho phép tiến độ gia tăng trơn tru khi viết (viết gia tăng)).
Ngoài giá trị lâu dài của các liên kết đã ghi lại, chúng còn giúp dẫn dắt sự chú ý khi viết nháp: Van xả cho tư duy phi tuyến tính có thể hỗ trợ đầu ra tuyến tính tốt hơn.
Tài liệu tham khảo
Luhmann, N. (1992). Communicating with Slip Boxes. In A. Kieserling (Ed.), & M. Kuehn (Trans.), Universität als Milieu: Kleine Schriften (pp. 53–61). Retrieved from http://luhmann.surge.sh/communicating-with-slip-boxes
2. Khả năng liên kết (Verweisungsmöglichkeiten). Vì mọi phiếu đều có số cố định, ta có thể thêm bao nhiêu tham chiếu tùy ý. Các khái niệm trung tâm có thể có nhiều liên kết, cho thấy ở những bối cảnh nào khác ta có thể tìm được tài liệu liên quan. Nhờ tham chiếu, ta giải quyết được bài toán lưu trữ nhiều nơi mà không tốn nhiều công sức hay giấy.
(** 2. Possibility of linking (Verweisungsmöglichkeiten).** Since all papers have fixed numbers, you can add as many references to them as you may want. Central concepts can have many links which show on which other contexts we can find materials relevant for them. Through references, we can, without too work or paper, solve the problem of multiple storage.)
Dù sao đi nữa, giao tiếp trở nên hữu ích hơn khi ta kích hoạt được mạng lưới liên kết nội bộ lúc viết ghi chú hoặc tra cứu. Bộ nhớ không vận hành như tổng các lần truy cập điểm này điểm kia. Nó tận dụng các quan hệ nội bộ và chỉ phát huy hiệu quả ở mức độ giảm bớt sự phức tạp của chính nó.
(In any case, communication becomes more fruitful when we succeed to activate the internal network of links at the occasion of writing notes or making queries. Memory does not function as the sum of point by point accesses, but rather utilizes internal relationships and becomes fruitful only at this level of the reduction of its own complexity.)