Dung lượng kênh của con người tăng theo số bit trên mỗi khối. Nhưng ta không buộc phải chịu kích thước khối “nội tại” của một kích thích. Có thể tăng kích thước khối hiệu dụng bằng cách mã hóa lại kích thích, tức là gom chúng trong tâm trí thành những khối lớn hơn đại diện cho các mẫu rộng hơn. Các lược đồ khối này còn được gọi là Biểu diễn tinh thần, theo Ericsson và Pool.
Ví dụ, khi học thuộc một dãy chữ số nhị phân, ta có thể nhớ chúng dưới dạng nhóm ba bit (010 = 2, 101 = 5…), gần như nhân ba dung lượng (Miller, 1956). Chase và Ericsson (1982) đã dùng kỹ thuật này để nâng khả năng nhớ chữ số của một sinh viên lên tới 80 chữ số, qua mã hóa lại phân cấp thành các khối 4 chữ số thập phân.
Quá trình này quan trọng không chỉ vì nó giúp ta nhớ thông tin hữu ích, mà vì nó nhiều khả năng là chìa khóa của cách bất kỳ ai xử lý bất kỳ loại tài liệu phức tạp nào (xem Chuyên môn đòi hỏi xây dựng các lược đồ mã hóa lại khối tinh vi). Một người chơi piano ban đầu đọc từng nốt rời (C, E, G, à một hợp âm C), nhưng sau đó nhìn ngay hình dạng ấy là một hợp âm đơn (à, bộ ba trưởng C). Không thể đọc bản nhạc phức tạp ở mức nghiêm túc với cách tiếp cận từng nốt.
Các mẫu này (ví dụ hình dạng của bộ ba trưởng) chỉ dùng được như “khối” khi đã được lưu trong bộ nhớ dài hạn.
Chase và Simon - Nhận thức trong cờ vua ghi nhận dữ liệu thực nghiệm cho thấy kiện tướng cờ vua dùng khối lớn hơn (và có thể tổ chức khối theo cấu trúc phân cấp).
Liên quan: Ý tưởng phức tạp khó học vì các thành phần làm tràn bộ nhớ làm việc
Tài liệu tham khảo
Chase, W. G., & Ericsson, K. A. (1982). Skill and Working Memory. In G. H. Bower (Ed.), Psychology of Learning and Motivation (Vol. 16, pp. 1–58). Academic Press. https://doi.org/10.1016/S0079-7421(08)60546-0
Miller, G. A. (1956). The magical number seven, plus or minus two: Some limits on our capacity for processing information. Psychological Review, 63(2), 81–97. https://doi.org/10.1037/h0043158 Miller - Con số kỳ diệu bảy, cộng hoặc trừ hai