Siêu lý tính: dẫn nhập (Meta-rationality: an introduction)

Meta-rationality: An introduction | Meaningness

Một số người có khả năng cắt thẳng qua các tình huống mơ hồ mà những người thông minh, lành nghề lại bối rối. Họ làm vậy bằng cái Chapman gọi là “siêu lý tính” (meta-rationality): họ co góc nhìn từ các hệ thống chính thức, được định nghĩa rõ ràng, để gắn vào những đặc tính ngẫu nhiên của tình huống cụ thể.

Đây là kỹ năng hiếm. Một lý do là loại hiểu biết này đòi hỏi cả chuyên môn về các hệ thống chính thức liên quan và cả các phương pháp “siêu lý tính” này. Nhưng những phương pháp sau không thể dạy chính thức được. Vì siêu lý tính phụ thuộc rất nhiều vào tình huống, nó thường không diễn đạt được bằng lời. Khi ai đó dùng quy nạp trong một chứng minh, ta thấy rõ. Nhưng khi ai đó dùng kỹ thuật siêu lý tính để xoay sở một tình huống mơ hồ, thường ta không nhận ra.

H. Cho một ví dụ (mới) về việc chủ nghĩa lý tính gây rối một tình huống nơi làm việc?
Đ. (ví dụ: một quy trình ra quyết định đẻ ra những quyết định mà ai cũng đồng ý là sai)

Lý tính và tủ lạnh (Rationality and refrigerators)

Rationality and refrigerators | Meaningness

Cố gắng chỉ tin vào những phát biểu đúng nghe có vẻ hợp lý. Nhưng thường thì không khả thi: trong phần lớn trường hợp, giá trị chân lý phụ thuộc vào {“ai hỏi và vì sao.”} (who’s asking and why)

Điều đó không làm câu trả lời mất quan trọng. Thường vẫn có một câu “đúng” cho tình huống cụ thể, và trả lời đúng có khi cực kỳ quan trọng. Siêu lý tính tiếp cận sự mơ hồ này không theo kiểu hậu hiện đại (“sự thật là kiến tạo xã hội!”) mà bằng cách xây dựng trên các hệ thống lý tính để tạo ra ý nghĩa nhiều hơn trong ngữ cảnh.

H. Hai cách hiểu của câu “có nước trong tủ lạnh không?” là gì?
Đ. 1. Không, không có nước uống được trong tủ lạnh; 2. Có, trong tế bào của quả cà tím.

H. Câu trả lời đặc trưng của siêu lý tính cho câu hỏi “X có đúng không?” là gì?
Đ. “Theo nghĩa nào?”

Mây và cà tím (Clouds and eggplants)

Clouds and eggplants | Meaningness

Tính mơ hồ (nebulosity) là lực buộc ta phải có siêu lý tính. Các hệ thống lý tính không thể đưa ra câu trả lời đúng mãi mãi trong các tình huống con người, vì những tình huống đó không thể tránh khỏi mơ hồ khi soi kỹ.

Vấn đề không phải là ta không thể xác định giá trị chân lý cho các câu hỏi chính xác. Ta có công cụ chính thức cho việc đó. Vấn đề là các câu hỏi ở quy mô con người thường không được (và thường không thể được) đặt đủ chính xác để một hệ thống chính thức áp dụng nhất quán.

Mây là ví dụ tuyệt vời về tính mơ hồ thiết yếu.

H. Vì sao ranh giới một đám mây lại mơ hồ?
Đ. Nó loãng dần ra ở mép. Không có điểm rõ ràng nào mà mây bắt đầu hoặc kết thúc. Câu trả lời về ranh giới phụ thuộc vào lý do bạn hỏi.

H. Vì sao danh tính một đám mây lại mơ hồ?
Đ. Đó là hai đám mây hay hai phần của một? Khó nói, tùy lý do bạn hỏi.

H. Vì sao phạm trù của một đám mây lại mơ hồ?
Đ. Có các loại như cirrus và altocumulus, nhưng chúng chuyển hóa vào nhau liên tục.

H. Vì sao hình dạng một đám mây lại mơ hồ?
Đ. Chúng phức tạp, chi tiết cao, nhưng các từ chung như “tấm” hay “sợi” vẫn có nghĩa trong nhiều tình huống.

Một cuộc cách mạng tín nhiệm trong kỷ nguyên hậu sự thật (A credibility revolution in the post-truth era)

A credibility revolution in the post-truth era | Meaningness

Một cách giải thích cho Tiến bộ khoa học dường như đang chậm lại là việc nhấn mạnh lý tính hệ thống đã làm sáng tạo trở nên hiếm. Các động lực có xu hướng kéo người ta về phía quay tay cơ học, không phản tư về ý nghĩa của thứ đang được tạo ra, về cách nên tạo ra, về vấn đề nào đáng giải.

Sáng tạo bắt nguồn từ ngạc nhiên, tò mò, vui chơi, thích thú. Những điều này nổi bật trong tiểu sử các nhà khoa học và nhà phát minh vĩ đại. Các sắp đặt thể chế hiện tại không khuyến khích chúng, mà ưu tiên áp lực cạnh tranh liên tục cho năng suất thường ngày, vô tư.

Văn hóa ngày nay (“hậu hiện đại”) đã nhận ra rằng các hệ thống lý tính phổ quát (“hiện đại”) là bất khả. Nhưng nhận thức này lại dẫn đến việc vứt bỏ hoàn toàn lý tính, kèm niềm tin rằng không có cách nào đánh giá “sự thật”, kể cả theo nghĩa ngẫu nhiên, phụ thuộc tình huống. Các hệ thống đó vẫn hữu ích. Chỉ là chúng không tuyệt đối.


Phần một: Coi chủ nghĩa lý tính nghiêm túc (Part One: Taking rationalism seriously)

Part One: Taking rationalism seriously | Meaningness

Lý tính, chủ nghĩa lý tính, và các lựa chọn thay thế (Rationality, rationalism, and alternatives)

Rationality, rationalism, and alternatives | Meaningness

Lý tính (rationality) nhấn mạnh “các cách suy nghĩ và hành động chính thức, có hệ thống, rõ ràng, kỹ thuật, trừu tượng, phi điển hình, phi hiển nhiên.” Chapman cũng lưu ý rằng có thể nghĩ về một hệ thống chính thức như một thủ tục có thể in trong sách và làm theo (giống Chiến lược thực thi). Lý tính khao khát tính phổ quát.

Chapman đặt ra từ {“chủ nghĩa lý tính”} (rationalism) để mô tả niềm tin vào {hiệu lực phổ quát của lý tính} (the universal efficacy of rationality).

Những niềm tin kiểu này thường gắn với việc dùng một hệ thống lý tính để giải thích vì sao lý tính hoạt động, ví dụ bằng cách định ra một hàm quyết định cho niềm tin đúng. Chủ nghĩa lý tính có tính quy chuẩn: người tin theo cho rằng người khác cũng nên tin, và họ sẽ thúc đẩy điều đó. Sẽ tốt theo một nghĩa nào đó nếu một biến thể của chủ nghĩa lý tính là đúng, nhưng không có biến thể nào đúng cả. Thế giới quá mơ hồ.

Ngược lại, Chapman định nghĩa {“sự hợp lý”} (reasonableness) là {nghĩa thông thường của “hợp lý”: hành động cảm thấy đúng, có khả năng chạy được trong thời điểm} (the everyday meaning of “rational”: sensible action that’s likely to work in the moment).

Chủ nghĩa lý tính coi sự hợp lý là nỗ lực kém cỏi hướng tới lý tính, nhưng quan điểm đó sai. Sự hợp lý cho câu trả lời tốt trong một số tình huống mà lý tính không làm được.

“Siêu lý tính” (meta-rationality) là thực hành {thương lượng} cách dùng lý tính và sự hợp lý phù hợp cho một ngữ cảnh. Nó khác phản lý tính (anti-rationality), tức niềm tin rằng {lý tính hệ thống không chạy ngay cả khi được áp dụng phù hợp}. Nó cũng khác phi lý tính (irrationality), tức {thất bại trong hành động hiệu quả, không hợp lý mà cũng không lý tính}.

“Siêu chủ nghĩa lý tính” (meta-rationalism) là thay thế cho chủ nghĩa lý tính: “cách, khi nào, và vì sao sự hợp lý, lý tính, và siêu lý tính chạy được.”

H. Theo nghĩa nào chủ nghĩa lý tính có tính quy chuẩn?
Đ. Các nhà lý tính cho rằng mọi người nên tuân thủ định nghĩa lý tính của họ bất cứ khi nào có thể.

H. Yếu tố quan hệ giữa người với người nào phân biệt định nghĩa của Chapman về “nhà lý tính” với một người cho rằng lý tính là hữu ích?
Đ. Nhà lý tính chủ động thúc đẩy chủ nghĩa lý tính. Niềm tin của họ mang tính quy chuẩn, không chỉ mô tả.

H. Vì sao siêu lý tính không phải “thay thế cho” lý tính?
Đ. Siêu lý tính là việc chọn phương pháp lý tính phù hợp cho một tình huống, nên nó vô dụng nếu không có lý tính.

H. Phân biệt phản lý tính và phi lý tính.
Đ. Phản lý tính là phủ nhận rõ ràng giá trị của lý tính hệ thống. Phi lý tính là thất bại trong việc hành động hiệu quả trong một tình huống.

H. Vì sao mâu thuẫn khi hình dung rằng siêu lý tính nghĩa là áp dụng lý tính lên chính nó?
Đ. Một trong những tuyên bố cốt lõi của siêu lý tính là bạn không thể dùng lý tính hệ thống để tìm ra cách áp dụng sự hợp lý và lý tính trong một tình huống.

Phần lớn mọi người không nhận ra rằng đây không phải cách họ thực sự giải quyết phần lớn vấn đề trong đời (một khi đã rời ghế nhà trường).

Phản ứng của chủ nghĩa lý tính trước rắc rối (Rationalism’s responses to trouble)

Rationalism’s responses to trouble | Meaningness

Những trục trặc mà các hệ thống chính thức gặp phải có một số dạng trông giống nhau nhưng thực ra đại diện cho các tình huống gốc rất khác nhau:

  1. Mơ hồ về biểu diễn: thiếu chính xác trong một đặc tả, yêu cầu, hoặc mô hình. Chủ nghĩa lý tính cố gắng đối phó bằng cách giới thiệu các hệ thống chính xác hơn (ví dụ: logic hình thức).
  2. Bất định nhận thức luận: bạn không đủ bằng chứng để quyết định (“điều đã biết là không biết”), hoặc vấp phải “điều không biết là không biết.” Chủ nghĩa lý tính đối phó bằng những thứ như lập luận Bayes.
  3. Mơ hồ bản thể học: “Sự bất định bồng bềnh, mờ nhòe, linh hoạt của thế giới.” Chủ nghĩa lý tính thường nhầm cái này thành một trong hai loại trên, hoặc cố vá hạn chế bằng cách thêm “đồ logic” vào.

H. Đối lập bản thể học và nhận thức luận.
Đ. Bản thể học bàn về cái gì tồn tại, nhận thức luận bàn về cái gì ta biết.

H. Một ví dụ về câu hỏi bản thể học là gì?
Đ. (ví dụ: có những loại sự vật nào? thuộc tính của loại này là gì? quan hệ giữa các sự vật là gì?)

H. Vì sao lý tính xử lý kém các câu hỏi bản thể học?
Đ. Bản thể học vốn mơ hồ. Ranh giới các phạm trù ở quy mô con người vừa mờ vừa tùy ngữ cảnh.

Thực chứng và logic (Positive and logical)

Positive and logical | Meaningness

Chủ nghĩa thực chứng logic (logical positivism) là nỗ lực kết hợp lập luận suy diễn và trực giác (Chapman gọi là “lý tính”) với kinh nghiệm cảm giác (thực nghiệm). Tức là họ muốn cung cấp cơ sở logic cho {phương pháp khoa học: đưa ra các tuyên bố tổng quát dựa trên dữ liệu thực nghiệm} (the scientific method: making general claims based on experimental data).

Cách tiếp cận ban đầu đi theo con đường mà Chapman gọi là “chủ nghĩa logic” (logicism): về cơ bản là logic vị từ toán học áp dụng cho các câu hỏi nhận thức luận rộng hơn. Lý tưởng là dùng logic để chứng minh rằng logic hoạt động như ta kỳ vọng. Cách này không chạy (xem Gödel).

Sau đó nó chuyển sang cách tiếp cận Chapman gọi là “chủ nghĩa xác suất” (probabilism), giống lý thuyết xác suất áp dụng cho nhận thức luận. Nếu bạn thấy mặt trời mọc ở phía Đông một nghìn lần, bạn không thể kết luận nó luôn mọc ở phía Đông, nhưng bạn có thể ngày càng chắc rằng nó sẽ mọc ở phía Đông. Các nhà thực chứng logic cố thống nhất lập luận xác suất kiểu này với logic vị từ nhưng (theo Chapman) thất bại. Các bài Less Wrong cổ điển dường như gợi ý nhận thức luận kiểu này.

H. Trong cái Chapman gọi là “chủ nghĩa logic”, các phát biểu đúng đến từ đâu?
Đ. Từ các phát biểu đúng khác, qua suy diễn toán học.

Thế giới là tất cả những gì là trường hợp (The world is everything that is the case)

The world is everything that is the case | Meaningness

Một cách biếm họa chủ nghĩa logic là tưởng tượng bạn có một danh sách câu trong đầu, mỗi câu được đánh dấu “đúng” hoặc “sai.” Vô lý, vì nhiều thứ không thể đánh dấu kiểu đó. Ví dụ hay của Chapman: “Vậy Hannah và Martin có gì với nhau chưa?” “Đại loại là có… Họ chưa thực sự làm gì, nhưng tối qua đã ngồi hôn nhau hàng giờ trên ghế đá công viên.”

Nếu bạn ép người ta về điểm này, không ai thực sự khẳng định họ tư duy theo kiểu đó, nhưng nhiều lý thuyết nhận thức luận (đặc biệt là chủ nghĩa logic) dường như dựa trên mô hình nền này.

H. Wittgenstein muốn nói gì khi viết “Thế giới là tất cả những gì là trường hợp”?
Đ. Ông gợi ý rằng thế giới được xác định bởi danh sách tất cả các phát biểu đúng (tức chủ nghĩa logic).

Xem thêm ghi chú hay này:

“Thế giới là tất cả những gì là trường hợp” là câu đầu tiên và là luận điểm trung tâm của Tractatus Logico-Philosophicus, một trong những văn bản trung tâm của chủ nghĩa thực chứng logic. “Chủ nghĩa thực chứng” đôi khi được định nghĩa là tuyên bố rằng thế giới không gì khác hơn là danh sách mọi phát biểu đúng. Và quả vậy, câu thứ hai của Wittgenstein là “Thế giới là tổng thể các sự kiện, không phải của mọi vật.”

Phụ thuộc vào nghĩa của từ “là” (Depends upon what the meaning of the word “is” is)

Depends upon what the meaning of the word “is” is | Meaningness

Một thách thức rõ ràng với chủ nghĩa logic là ngôn ngữ thường ngày hay mơ hồ. “Con chó là Samoyed.” Con chó nào? Bất kỳ con chó nào? Năm 1879, Gottlob Frege phát triển cú pháp logic loại bỏ sự mơ hồ này bằng cách thêm các lượng từ phổ quát và tồn tại. Nhờ vậy bạn có thể nói “có một con chó là Samoyed,” hoặc “con chó nhận dạng duy nhất này là Samoyed.”

Vấn đề là ta vẫn diễn giải được các câu kiểu “Con chó là Samoyed” một cách phù hợp. Chỉ có điều việc diễn giải đòi hỏi ngữ cảnh, và các hệ thống logic chính thức kiểu này không kết hợp được tính ngẫu nhiên đó.

H. Giải pháp của nhà lý tính cho ngôn ngữ mơ hồ là gì?
Đ. Phát minh và giao tiếp bằng một ngôn ngữ chính xác và cụ thể.

H. Vì sao phát biểu “con chó là Samoyed” đòi hỏi siêu lý tính?
Đ. Nó tùy ngữ cảnh. Con chó nào? Tùy ai hỏi và vì sao.

Giá trị của sự vô nghĩa (The value of meaninglessness)

The value of meaninglessness | Meaningness

“Chủ nghĩa duy tâm” của Hegel ủng hộ một dạng duy ngã luận. Bertrand Russell tóm tắt:

Thời gian và không gian là không thực, vật chất là ảo tưởng, và thế giới chẳng gồm gì khác ngoài tâm trí.

Các nhà thực chứng logic gọi tuyên bố đó không phải đúng, cũng không phải sai, mà là vô nghĩa, đưa thêm một giá trị mới vào logic. Họ cũng giới thiệu “không biết.” Bước này gọi là “logic đa giá trị,” giải quyết một số vấn đề kỹ thuật, nhưng cuối cùng bị lý thuyết xác suất bao trùm vì xác suất cho phát biểu chi tiết hơn về tính đúng.

H. Các nhà thực chứng logic phản ứng thế nào với những tuyên bố như “Thế giới chẳng gồm gì khác ngoài tâm trí”?
Đ. Họ tuyên bố những phát biểu kiểu này là ‘vô nghĩa,’ đưa thêm một giá trị chân lý mới.

Sự thật của vấn đề (The truth of the matter)

https://meaningness.com/eggplant/sort-of-truth

Mệnh đề ở quy mô con người hiếm khi hoàn toàn đúng hoặc sai. Chúng thường “nhìn chung” đúng, “đúng về nguyên tắc,” hay “khá đúng.” Vấn đề là phép tính của cả chủ nghĩa logic lẫn chủ nghĩa xác suất đều dựa vào các giá trị chân lý tuyệt đối. Không rõ bạn có thể suy luận gì khi một biến là “đúng về nguyên tắc.”

Chủ nghĩa lý tính thường nhầm vấn đề này thành bất định hoặc thiếu chính xác. Đôi khi đúng vậy. Khi đúng vậy, bạn có thể định nghĩa cú pháp chính xác hơn hoặc xử lý mọi thứ theo xác suất. Nhưng thường giá trị chân lý mơ hồ về bản thể học. Nếu “Alain hói” là “khá đúng,” vấn đề không phải bất định (anh ta hói với p=0.8) hay thiếu chính xác (anh ta hói 80%). Mức độ hói của anh ta phụ thuộc vào lý do bạn hỏi.

Ta muốn biết nhiều thứ về phô mai tươi, về các động tác nhảy, về huấn luyện chó con. Nhưng không có gì tuyệt đối đúng về chúng. Rõ ràng đủ thứ là đúng về chúng theo nghĩa thông thường. Nhưng ta thậm chí không thể nói chắc liệu thứ gì đó có phải phô mai tươi hay không. Luôn có các trường hợp biên, như phô mai tươi đã để tủ lạnh quá lâu và đang dần biến thành thứ khác. Cũng không tuyệt đối đúng rằng phô mai tươi màu trắng. Chỉ là “gần đúng hơn hoặc kém hơn”; soi kỹ, nó hơi vàng.

H. Vì sao việc phép tính của chủ nghĩa logic và chủ nghĩa xác suất dựa vào các giá trị chân lý tuyệt đối lại là vấn đề?
Đ. Trong thực tế, các mệnh đề ở quy mô con người thường chỉ “gần đúng,” và không rõ các hệ thống chính thức xử lý các giá trị đó ra sao.

Reductio ad reductionem

Reductio ad reductionem | Meaningness

Một ảo tưởng đẹp đẽ: mỗi chủ đề nên biểu diễn được theo các chủ đề “cấp thấp hơn,” sinh học trên hóa học, hóa học trên vật lý. Các phép quy giản kiểu này thường khá hữu ích (xem các lớp trừu tượng trong khoa học máy tính, các định luật khí lý tưởng). Nhưng phép quy giản khoa học hoàn chỉnh rất hiếm. Thực tế, các thuật ngữ cấp cao thường không thể định nghĩa đầy đủ theo cấp tiếp theo, hoặc các trừu tượng cấp thấp “rỉ” ngược lên cấp cao.

Các nhà sinh học có thể giải thích nhiều hiện tượng mạch lạc dù không thể quy giản tế bào về hóa học, nên ta phải tìm cách khác để hiểu loại lý tính này.

Cà tím có phải là quả không? (Are eggplants fruits?)

Are eggplants fruits? | Meaningness

Chủ nghĩa lý tính phản ứng với mơ hồ bản thể học bằng cách cố định nghĩa các thuật ngữ chính xác hơn. Tức là cố quy giản các thành phần về các thuật ngữ “xác định về bản thể học,” các thuật ngữ có thể đúng hoặc sai hoàn toàn về một đối tượng (ví dụ: 3 là số nguyên tố). Nhưng cách này thường bất khả với các đối tượng ở quy mô con người, vì chúng có những thuộc tính mà việc diễn giải phụ thuộc vào ngữ cảnh.

Ví dụ Chapman dùng: “cà tím có phải quả không?” Theo thực vật học, có. Theo ẩm thực, không. Ta có thể cụ thể hơn để né mơ hồ này. Nhưng rồi phải hỏi: cái gì làm nó là quả, theo nghĩa thực vật học? À, nó có hạt và nó là một phần của một thực vật có hoa. Nhưng “phần của thực vật có hoa” nghĩa là gì khi nó đã bị cắt khỏi cây? Có rất nhiều ngoại lệ và trường hợp ngóc ngách. Mỗi cái có vẻ giải được tại thời điểm đó, nhưng chúng không hết. Bạn không thể tạo một định nghĩa hoàn chỉnh.

Đây không phải vấn đề ở cách ta dùng ngôn ngữ: “Khó khăn không nằm ở chỗ ta không thể làm cho một phát biểu quy chiếu đúng tới phạm trù. Mà ở chỗ không có đường phân chia rõ ràng nào trong thế giới làm được công việc ta muốn một cách đáng tin. Vấn đề ở lãnh thổ, không phải ở bản đồ.”

Tuy vậy, trong sinh hoạt hàng ngày, ta đặt và trả lời các câu hỏi kiểu này không khó khăn rõ rệt.

H. Vì sao khó trả lời “cà tím có phải quả không?”
Đ. ví dụ Chúng là quả theo thực vật học nhưng không phải theo ẩm thực.

H. Loại đối tượng và thuộc tính nào mà chủ nghĩa lý tính đúng?
Đ. Các đối tượng và thuộc tính xác định về bản thể học, được phân ranh tuyệt đối, có mặt hoặc vắng mặt trong một phạm trù, không mơ hồ.

H. Vì sao không thể biến “cà tím có phải quả không?” thành một câu hỏi hoàn toàn chính xác?
Đ. Có mơ hồ ngữ nghĩa không tránh khỏi. Phạm trù ta đang muốn chỉ tới không được phân ranh rõ ràng trong thực tế vật lý, nên ta không thể tạo một từ trỏ đúng vào ranh giới đó.

Khi nào bạn sẽ hói? (When will you go bald?)

When will you go bald? | Meaningness

Một dạng mơ hồ là biến thiên định lượng (quantitative variation), tức một thuộc tính thay đổi liên tục thay vì nhận vài giá trị rời rạc. Chủ nghĩa lý tính đôi khi xử lý được (văn liệu gọi là “vagueness”, sự mờ). Nếu biến thực sự liên tục, có thể mô hình hóa liên tục đó chính thức (sắc xám như giá trị độ sáng từ 0 đến 1). Nếu biến thiên định lượng là về mức độ chắc chắn của ta (vấn đề nhận thức), thì có thể đưa xác suất vào để xử lý.

Nhưng cách đó không bao phủ mọi tình huống. Xét phát biểu “Alain hói.” Đúng không? Anh ta vẫn còn ít tóc, mỏng, và phần lớn ở gần tai. Đếm tóc không giúp trả lời câu hỏi. Vấn đề không phải bạn thiếu phép đo định lượng chính xác. Đặt mệnh đề theo xác suất không giúp ích (Alain hói với p=0.73). Vấn đề không phải bạn không chắc Alain có hói. Cũng không phải anh ta “0.9 hói” về bản thể học. Vấn đề không biến mất khi gắn số vào giá trị chân lý. Vậy mà chỉ cần nhìn anh ta, rõ ràng là anh ta hói.

H. 3 cách chủ nghĩa lý tính dùng để xử lý sự mờ do biến thiên định lượng là gì?
Đ. Gắn xác suất; các phương pháp đo lường và logic chính thức; gắn số vào giá trị chân lý bản thể học.

H. Vì sao lý thuyết xác suất không giúp khi “Alain hói” là “khá đúng”?
Đ. Vấn đề không phải bất định. Mức độ hói của anh ta phụ thuộc vào lý do bạn hỏi.

H. Vì sao các phương pháp đo lường và logic chính thức không giúp khi “Alain hói” là “khá đúng”?
Đ. Đếm tóc anh ta chẳng giúp gì. Mức độ hói phụ thuộc vào lý do bạn hỏi.

H. Vì sao gắn số vào giá trị chân lý của “Alain hói” không giúp ích?
Đ. Hoàn toàn không rõ bạn sẽ dùng con số đó thế nào. Vấn đề là giá trị chân lý của phát biểu tùy ngữ cảnh.

Đẩy phép xấp xỉ quá xa (Overdriving approximation)

Overdriving approximation | Meaningness

Cách tiếp cận của kỹ sư với mơ hồ có thể là: tất cả những gì cần là một mô hình cho xấp xỉ đủ tốt. Vấn đề là một mô hình xấp xỉ tốt đòi hỏi miền áp dụng được hiểu rõ (nơi nó chạy tốt) và sai số có biên (mô tả nó có thể tệ đến đâu). Trong vật lý và kỹ thuật điện, ta có thể có những mô hình kiểu đó. Nhưng trong đời thường, ta thường không biết hết các điều kiện áp dụng. Quyết định khi nào, ở đâu, vì sao áp dụng một mô hình xấp xỉ cụ thể tự nó đã là thách thức siêu lý tính.

Một thách thức liên quan thú vị: với các hiện tượng phi số, xấp xỉ thường là cách không phù hợp để nghĩ về một phát biểu:

Một đoạn DNA cụ thể không xấp xỉ là một gen. Nó chắc chắn là gen hoặc không, và nó có thể là “kiểu kiểu” một gen, nhưng không bao giờ là gen “trong giới hạn sai số.” Các cách lập luận chạy được cho sự thật xấp xỉ bằng số không chạy được cho sự thật “thường thường là đủ”, nên xấp xỉ không phải mô hình tổng quát phù hợp về tính đủ của mô hình.

H. Vì sao không đủ khi các mô hình lý tính là “xấp xỉ đúng”?
Đ. Điều đó chỉ thực sự đúng với các mô hình kiểu vật lý. Với các câu hỏi quy mô con người, miền áp dụng không rõ ràng, và biên sai số tùy ngữ cảnh.

Tham chiếu: vấn đề thực tại của chủ nghĩa lý tính (Reference: rationalism’s reality problem)

https://meaningness.com/eggplant/rational-reference

Một cách đáng ngạc nhiên và tinh tế mà chủ nghĩa lý tính sụp đổ là tham chiếu tự nó vốn mơ hồ. “Samantha the Samoyed là màu trắng” mô tả quan hệ giữa một thuộc tính (màu trắng) và một tham chiếu tới một con chó (Samantha the Samoyed), nhưng quan hệ đó rất khó được neo tuyệt đối trong thực tế vật lý. Thực tế, loại tham chiếu này được thương lượng theo ngữ cảnh. Ví dụ, nếu tôi tìm thấy một con chó trắng đeo vòng cổ ghi “Samantha,” điều đó có thể khiến phát biểu trên có vẻ đúng hơn.

Đăng ký Trứng tráng Quốc gia (The National Omelet Registry)

The National Omelet Registry | Meaningness

Nhiều phát biểu thường ngày mơ hồ vì chúng dùng chỉ xuất từ (indexicals) để tham chiếu các đối tượng: “Trứng tráng của tôi to hơn.” Giá trị chân lý của câu này phụ thuộc vào người nói. Để biến những phát biểu kiểu này thành xác định về bản thể học, bạn phải thay mọi chỉ xuất từ bằng định danh tuyệt đối: “Trứng tráng 92349817 to hơn trứng tráng 8951875.” Nhưng đáng tiếc, “không có đăng ký trứng tráng quốc gia.” Và không thể có, kể cả về nguyên tắc, vì ranh giới các đối tượng không xác định về bản thể học.

Dù vậy, hiếm khi điều này gây vấn đề trong thực tế vì chỉ cần sự hợp lý đã đủ đối phó.

H. Vì sao phát biểu “trứng tráng của tôi to hơn” không thể được làm xác định về bản thể học?
Đ. Bạn sẽ phải thay “trứng tráng của tôi” bằng một tham chiếu tuyệt đối tới một đối tượng, điều bất khả.

Đối tượng, một cách khách quan (Objects, objectively)

Objects, objectively | Meaningness

Các phát biểu mơ hồ không thể trở thành xác định về bản thể học bằng cách quy giản về các phát biểu trong vật lý lượng tử, vì ranh giới các đối tượng ở quy mô con người không thể định nghĩa với tính xác định bản thể học.

Feynman nói hay:

Đối tượng là gì? Triết gia luôn nói, “Ừ, lấy cái ghế làm ví dụ.” Khoảnh khắc họ nói vậy, bạn biết họ không còn biết họ đang nói về cái gì nữa. Các nguyên tử bốc hơi khỏi nó theo thời gian, không nhiều, nhưng có vài cái. Bụi rơi xuống và hòa vào sơn. Vậy nên để xác định một cái ghế chính xác, để nói chính xác nguyên tử nào là ghế, nguyên tử nào là không khí, nguyên tử nào là bụi, nguyên tử nào là sơn thuộc về ghế, là không thể. Khối lượng một cái ghế chỉ có thể xác định gần đúng.

Không có vật thể đơn lẻ, biệt lập nào trong thế giới. Nếu ta không quá khắt khe, ta có thể lý tưởng hóa cái ghế thành một vật nhất định. Có người thích định nghĩa toán học, nhưng định nghĩa toán học không bao giờ chạy được trong thế giới thực.

Trong thực tế ta vẫn làm việc với các đối tượng không xác định, nhưng luôn theo cách phụ thuộc ngữ cảnh. Thường thì giới hạn của định nghĩa không quan trọng, nhưng “Câu hỏi siêu lý tính là: điều đó có quan trọng không, cho một mục đích cụ thể? Nếu có, thế nào và vì sao? Điều này ngụ ý gì về cách ta nên triển khai lý tính?”

H. Bác bỏ ý cho rằng đối tượng là chủ quan hoặc được kiến tạo xã hội.
Đ. ví dụ Pluto đã tồn tại từ rất lâu trước khi được phát hiện vào thế kỷ XX.

H. Bác bỏ: “Đối tượng mơ hồ, nhưng có lõi xác định; chúng chỉ mờ ở mép.”
Đ. Hai đám mây nối với nhau bằng một sợi mỏng. Đó là một đám mây hay hai?

H. Bác bỏ: “Đối tượng mơ hồ do bất định vật lý.”
Đ. Ranh giới đám mây vẫn mơ hồ kể cả khi bạn đóng băng được toàn bộ vật chất của nó.

Đây có phải quả cà tím mà tôi đang thấy trước mặt không? (Is this an eggplant which I see before me?)

Is this an eggplant which I see before me? | Meaningness

Nếu ta định đưa ra các phát biểu về các đối tượng trong thế giới, ta cần phân định vai trò tương ứng của tri giác và lý tính. Có thể lý tính tiêu thụ các phát biểu đúng và sinh ra phát biểu mới, nhưng các phát biểu đúng ban đầu đến từ đâu? Cuối cùng phải có một nguồn tiên đề cho sự thật. Chương này bàn về cái khó của việc thương lượng giao diện đó qua việc công kích bốn cách tiếp cận phổ biến.

Có thể đầu ra của tri giác là một tập phát biểu về cái bạn nhìn thấy. Nhưng các phát biểu đó dùng cú pháp gì? Có thể tri giác một quả cà tím không? Nếu bạn nói không, bạn để mặc lý tính tự phân loại “cà tím” từ một tập mô tả (mà ta đã lưu ý là bất khả). Nếu bạn nói có, thì làm sao học được nhãn mới, nếu các quá trình đó bắt đầu bằng những định nghĩa biểu đạt ở cấp lý tính?

Một hướng khác là để tri giác xuất ra các quan sát thô, trung lập. Nhưng giờ ta gặp lại vấn đề trừu tượng rò rỉ: chỉ vì bạn biết thứ gì đó màu tím, hình bầu dục, cứng, đắng, bạn không thể kết luận nó là cà tím.

Một hướng nữa là bỏ luôn sự phân tách, để lý tính làm hết, tiêu thụ kích thích cảm giác thô. Đây thực sự là mô hình các hệ thống “học sâu” hiện đại đang dùng, tiêu thụ dữ liệu pixel thô. Nhưng không rõ cách này khả thi ra sao với băng thông khổng lồ liên quan.

Một hướng cuối là chỉ tin vào các công cụ khoa học khách quan để hình thành niềm tin. Nhưng các công cụ đó cũng có thể sai và mang tải lý thuyết.

Bạn có thể tin vào cái gì? (What can you believe?)

What can you believe? | Meaningness

Một vấn đề khá trừu tượng với lý tính là nó liên quan đến mệnh đề và niềm tin, nhưng không rõ những thứ đó thực sự là gì. Có lẽ chúng không có tính vật lý, nhưng vẫn liên hệ có ý nghĩa với thực tế, vì một số mệnh đề cho dự đoán tương quan đáng tin với phép đo còn một số khác thì không. Chúng độc lập với tâm trí, vì ví dụ khối lượng proton đã là khối lượng proton trước khi ta biết nó là gì. Nhưng chúng đóng vai trò gì trong lập luận, và thế nào? Chapman tuyên bố không có lời giải tiêu chuẩn nào đứng vững (nhưng không nói rõ cách hay vì sao).

Bạn lấy ý đó từ đâu? (Where did you get that idea in the first place?)

Where did you get that idea in the first place? | Meaningness

Nếu lý tính là quyết định giữa nhiều lựa chọn thay thế, các lựa chọn đó đến từ đâu? Ý tưởng mới được tạo ra thế nào? Một cách giải thích là sáng tạo vốn phi lý tính, nhưng rõ ràng có gì đó mạch lạc đang diễn ra. Chapman dự báo siêu lý tính sẽ giải thích tốt hơn cách các lựa chọn mới xuất hiện.

Tòa án Dị giáo Tây Ban Nha (The Spanish Inquisition)

The Spanish Inquisition | Meaningness

Lý tính có thể tính toán mọi “điều đã biết là đã biết” và “điều đã biết là không biết,” nhưng không thể đưa ra suy luận đáng tin về thực tế vì có vô số “điều không biết là không biết.”

Trong thực tế, ta vẫn đưa ra suy luận chạy được khá thường xuyên, nhưng điều đó phụ thuộc vào các bước siêu lý tính như viện đến kịch bản lý tưởng hóa, làm cho thế giới bớt mơ hồ, hoặc dùng “kiểm tra thực tế” với đầu ra của suy luận lý tính. Nhưng quyết định khi nào, cách nào để áp dụng các chiến lược này đòi hỏi kỹ năng siêu lý tính.

Chủ nghĩa xác suất (Probabilism)

Probabilism | Meaningness

Chủ nghĩa xác suất thường được đề xuất như một cải tiến so với chủ nghĩa logic cho nền tảng của lý tính. Đặc trưng của nó là dùng lý thuyết xác suất và lý thuyết quyết định. Lý tính xác suất rất hữu ích, nhưng chỉ trong một số tình huống. Ví dụ, nó không giúp bạn đối phó với mơ hồ về biểu diễn (“trứng tráng đó của tôi”) cũng như mơ hồ về bản thể học (“Alain hói”).

Rời sòng bạc (Leaving the casino)

Leaving the casino | Meaningness

Lý tính xác suất áp dụng tốt nhất cho các tình huống bạn biết đáng tin {các hành động có thể thực hiện, các kết quả có thể xảy ra, và lợi nhuận quy cho từng cặp hành động/kết quả} (the actions which can be taken, the outcomes which can occur, and the payoffs attributable to each action/outcome). Trong thực tế, điều này hiếm khi đúng.

Cái xác suất không thể làm (What probability can’t do)

What probability can’t do | Meaningness